HỘI NGHỊ KHOA HỌC 2019
  • Hoi nghi Khoa hoc 2019
GSTS DANG DUC ANH DUOC BO NHIEM LAI CHUC VU VIEN TRUONG VIEN VE SINH DICH TE TRUNG UONGThao go nhung rao can cung CDC cac tinhHoi nghi Ban chap hanh Hoi Y hoc du phong Viet NamKet qua thi dau giai Bong ban Hoi Y hoc Du phong lan thu nhat 2019THONG CAO BAO CHI TRIEN LAM QUOC TE CHUYEN NGANH Y DUOC VIET NAM  VIETNAM MEDI-PHARM 2019Thong bao Hoi thao khoa hoc Viem nhiem phu khoa Thuc trang va Giai phapLe phat dong cuoc thi Hoc vien Y hoc nhi tai Ha NoiThu nghiem lam sang Vacxin Rotavin cong thuc moi tai Quang NinhThu moi tham gia va tai tro cuoc thi Hoc vien Y hoc nhi
Liên hệ trực tuyến
Hỗ trợ kĩ thuật
Hỗ trợ kĩ thuật
Đặt tạp chí
tapchiyhocduphong.vn
TIN TIÊU ĐIỂM

Tác động của sử dụng phiếu dịch vụ y tế và chất lượng các dịch vụ y tế ở các quốc gia đang phát triển


Nghiên cứu: Tác động của việc sử dụng phiếu dịch vụ y tế và chất lượng dịch vụ y tế tại những nước đang phát triển.

 

Bối cảnh: Một phương pháp nhằm tiếp cận để cung cấp hỗ trợ dịch vụ y tế cho các nước đang phát triển là sử dụng các phiếu sử dụng dịch vụ y tế được phân phát cho cộng đồng dân cư đích để họ có thể tiếp cận các dịch vụ sức khỏe miễn phí hoặc được trợ cấp một phần dịch vụ. Về mặt lý thuyết, nghiên cứu kỳ vọng thành công khi hướng tới mục tiêu dân số cụ thể, đồng thời nhằm nâng cao chất lượng sử dụng dịch vụ, nâng cao  hiệu quả chất lượng và cuối cùng là cải thiện sức khỏe của người dân.

 

Mục tiêu: Mục tiêu chính của nghiên cứu tổng quan hệ thống này là để đánh giá xem việc sử dụng phiếu dịch vụ y tế cho đến nay đã thành công trong việc đạt được những kết quả mong muốn hay chưa.

 

Phương pháp: Sử dụng tiêu chuẩn, loại trừ rõ ràng nhằm tìm kiếm các cơ sở dữ liệu liên quan từ nguồn tạp chí nổi tiếng, các trang web, tổ chức đã tiến hành thực hiện từ tháng 9- tháng 10 năm 2010. Một chiến lược tìm kiếm khác được sử dụng trong nghiên cứu, tham chiếu thư mục, tìm từ khóa bổ sung thông tin cụ thể và liên hệ với các chuyên gia về lĩnh vực này. Một cách tiếp cận theo kiểu phân tích gộp, chủ yếu phân tích tổng hợp số liệu định lượng theo hướng mục tiêu, sử dụng, hiệu quả, chất lượng và tác động tới sức khỏe. Nghiên cứu sử dụng các hướng tác động và độ tin cậy trong các kết quả nghiên cứu, đưa ra những phát hiện cho từng loại kết quả được tổng hợp và phân bổ cho một trong năm loại kết luận được giả định thiết lập: (1) không đủ bằng chứng; (2) bằng chứng không có hiệu lực; (3) mâu thuẫn chứng cứ; (4) bằng chứng còn hạn chế; (5) bằng chứng có hiệu lực mạnh mẽ. Việc phân tích nhóm nhỏ và độ nhạy cũng được thực hiện.

 

Kết quả: Tổng cộng có 24 nghiên cứu đánh giá 16 chương trình có sử dụng phiếu khác nhau được đề cập trong nghiên cứu này. Những phát hiện chính từ 64 biến kết quả đưa ra 5 kết luận chính như sau: (1) có bằng chứng cho rằng phiếu có hiệu quả đối với sản phẩm, dịch vụ y tế cho nhóm dân cư cụ thể (dựa trên 4 chương trình); (2) không có đủ bằng chứng để xác định xem các loại phiếu dịch vụ y tế hay các dịch vụ chăm sóc sức khỏe có hiệu quả hơn vì còn liên quan chiến lược cạnh tranh trong tài chính y tế (dựa trên 1 chương trình); (3) có bằng chứng mạnh mẽ cho rằng tăng cường sử dụng phiếu khám dịch vụ/sản phẩm y tế (dựa trên 13 chương trình); (4) có bằng chứng cho rằng các phiếu này nâng cao chất lượng dịch vụ y tế; (5) chứng cứ cho thấy các chương trình có sử dụng phiếu này không có ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân (dựa trên sáu chương trình); Tuy nhiên, kết luận cuối cùng được đưa ra là có một phân tích độ nhạy không ổn định.

 

Kết luận: Bằng chứng cho thấy rằng các chương trình phiếu dịch vụ y tế đã thành công trong việc gia tăng sử dụng dịch vụ sức khoẻ, nhắm đến mục tiêu dân số cụ thể, và nâng cao chất lượng dịch vụ. Trong khi những kết quả rất đáng khích lệ, có những nghi vấn các chương trình phiếu dịch vụ y tế cải thiện sức khỏe của người dân là không rõ ràng trong các dữ liệu phân tích ở tổng quan này. Phương pháp sử dụng trong phân tích cho phép các nhà hoạch định chính sách tổng hợp bằng phiếu này ở các nghiên cứu không đồng nhất và do đó thu thập nhiều dữ liệu hơn có thể được sử dụng trong phân tích. Tuy nhiên, chương trình sử dụng phiếu khám vẫn còn tương đối mới và số lượng nghiên cứu được công bố đánh giá là một hạn chế.Những đánh giá trong tương lai bằng cách sử dụng phương pháp tổng quan hệ thống có thể so sánh các chương trình y tế về mặt kỹ thuật tài chính và kết hợp bằng chứng mới về chương trình này để đánh giá hiện đang tiến hành; Tuy nhiên, các công cụ tổng hợp được sử dụng trong đánh giá này phải được ghi nhận.

 

Mục tiêu nghiên cứu

 

Các biện pháp đo lường tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh, tử vong mẹ và tử vong các bệnh cụ thể như bệnh sốt rét và HIV là khác nhau giữa các quốc gia (Satcher 2000). Các nước đang phát triển phải chịu 93% gánh nặng bệnh tật trên thế giới và chỉ chiếm 11% tổng chi y tế thế giới (Satcher 2000). Theo kết quả của khoảng cách giữa gánh nặng bệnh tật và tài trợ, ngành y tế ở các nước đang phát triển đã được được nhận những viện trợ quốc tế. Trong ba thập kỷ qua, thế giới đã chứng kiến một sự gia tăng tập trung vào sức khỏe toàn cầu một phần là do việc xác định sức khỏe là yếu tố quyết định tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo (Greene và Merrick năm 2005, Deaton 2003). Kết quả đã hỗ trợ phát triển chính thức từ các cơ quan song phương và đa phương về phía y tế đã tăng từ 4,5 tỷ USD năm 1996 đến 7,9 tỷ USD trong năm 2004 (OECD 2006).

Ngoài phân bổ kinh phí để giải quyết sự bất bình đẳng trong việc gia tăng sức khỏe, các nhà tài trợ đã nhấn mạnh sự cần thiết có một quỹ hỗ trợ chi tiêu hiệu quả và minh bạch (Ngân hàng Thế giới 2007). Một loạt các chiến lược tồn tại để phân phối viện trợ y tế. Một chiến lược ngày càng được sử dụng phổ biến là các chương trình sử dụng phiếu khám, được phân phối cho một dân số cụ thể đến các dịch vụ sức khoẻ miễn phí hoặc trợ cấp. Trong khi có nhiều bài giảng trong các tài liệu về cách làm thế nào các chương trình phiếu y tế làm việc và tại sao họ có tiềm năng quan trọng, các tài liệu thiếu một đánh giá hệ thống các bằng chứng hiện có về việc phiếu y tế mang lại giá trị cho các nhà tài trợ trong các hình thức chi tiêu hiệu quả của viện trợ y tế. Như vậy, mục tiêu tổng thể của tổng quan hệ thống này là để đánh giá xem chương trình phiếu dịch vụ y tế cho đến nay đã thành công trong việc đạt được mục tiêu của họ hay chưa và từ đó xem xét như một cơ chế để tiếp tục hỗ trợ y tế. Ngoài ra, đánh giá này nhằm xác định các điều kiện mà trong đó các chương trình phiếu y tế ít nhiều thành công và để xác định những khoảng trống trong các tài liệu cần nghiên cứu thêm.

 

Định nghĩa và các khái niệm

 

Trong một chương trình phiếu dịch vụ y tế thông thường có bốn đặc điểm chính: (1) chính phủ hoặc các nhà tài trợ đã cung cấp kinh phí; (2) cơ quan quản lý trực tiếp điều hành chương trình; (3) các nhà cung cấp phân phối các phiếu tiếp cận dịch vụ sức khoẻ; và (4) những người nhận phiếu là những người đang có nhu cầu tiếp cận dịch vụ sức khoẻ

 

Cơ quan quản lý đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp dịch vụ, ký kết hợp đồng cung cấp dịch vụ y tế cho người có phiếu, phân phối các phiếu này cho người dân nhằm mục tiêu giám sát việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc y tế của các nhà cung cấp. Người nhận phiếu khám có thể được lựa chọn trên thu nhập, cho dù họ đang sống trong một khu vực địa lý nhất định, cho dù họ có yếu tố nguy cơ nhất định, hoặc các đặc tính khác có liên quan tùy thuộc vào chương trình. Khi các phiếu khám được phân phối, người dân nhận phiếu từ các nhà cung cấp tham gia. Sau khi dịch vụ sức khoẻ quy định được cung cấp bởi các nhà cung cấp, nhà cung cấp nộp phiếu khám cho cơ quan quản lý.

 

 


Bối cảnh lý thuyết cho các chương trình này có thể được tìm thấy trong các lý thuyết kinh tế cơ bản của cung và cầu nhằm mục đích bơm cơ chế thị trường vào việc cung cấp viện trợ y tế để nâng cao hiệu quả và cải thiện sức khỏe (Bhatia và cộng sự 2006). Mục tiêu cuối cùng của chương trình là để cải thiện sức khỏe của người dân.

 

Một lợi thế của chương trình phiếu khám sức khỏe là khả năng cấp quyền sức mua cho những cá nhân có thu nhập thấp - những người có thể bị bỏ quên trên thị trường do không đủ tiền hoặc thiếu kiến thức về dịch vụ sức khoẻ (Mumssen và cộng sự 2010). Bằng cách nhằm vào các lợi ích đối với cá nhân có thu nhập thấp hoặc những cá nhân đang có nguy cơ cao, các chương trình phiếu khám sức khỏe dự kiến sẽ tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ y tế trong cho những người đang cần nhất, tăng cường sử dụng dịch vụ sức khoẻ là cần thiết, cải thiện sức khỏe trong quần thể mục tiêu và cải thiện công bằng trong phân bổ các dịch vụ y tế.

 

Một khía cạnh quan trọng của hầu hết các chương trình phiếu khám sức khỏe là quá trình ký kết hợp đồng với các nhà cung cấp nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn tối thiểu về chất lượng và cung cấp một số hình thức hướng dẫn cho các nhà cung cấp (Gorter và cộng sự 2003). Một số chương trình phiếu khám sức khỏe cũng có thể có biện pháp khuyến khích tài chính, nâng cao người thăm khám, khuyến khích các nhà cung cấp dịch vụ bằng chất lượng. Bằng cách đưa ra các tiêu chí về chất lượng dịch vụ và các gói dịch vụ cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe trên thị trường, lúc đó dự kiến sẽ cải thiện được các dịch vụ sức khỏe cho quần thể dân số mục tiêu và từ đó cải thiện sức khỏe cộng đồng dân cư. Ngoài ra, việc nâng cao chất lượng hiệu quả dịch vụ y tế dự báo làm tăng nhu cầu sử dụng dịch vụ đối với khám sức khỏe. Các nhà cung ứng dịch vụ không chỉ có động lực để cung cấp dịch vụ y tế có chất lượng áp dụng trong phiếu khám sức khỏe của họ và họ cũng có động lực hơn nữa để đáp ứng các nghĩa vụ trong hợp đồng một cách hiệu quả nhất để nắm bắt được phương thức thanh toán trong chương trình này (Gorter và cộng sự 2003).

 

Các nhà cung cấp không chỉ có động cơ để cung cấp dịch vụ y tế đạt tiêu chuẩn chất lượng đối với những người sử dụng phiếu khám sức khỏe mà họ có động lực đáp ứng một cách có hiệu quả nhất trong gói dịch vụ khám của mình  (Gorter và cộng sự 2003). Hơn nữa, sự cạnh tranh giữa các nhà cung cấp vào thị trường có thể dẫn đến giảm giá dịch vụ y tế. Như vậy, chương trình phiếu khám sức khỏe cũng được dự kiến có thể nâng cao hiệu quả của dịch vụ hàng hoá sức khoẻ. Nếu dịch vụ hàng hoá sức khoẻ có thể được cung cấp một cách hiệu quả, sau đó các quỹ có thể mở rộng dịch vụ ở phạm vi rộng và do đó cải thiện sức khỏe của người dân.

 

Với mục đích nghiên cứu tổng quan hệ thống, những tuyên bố trên phiếu khám được quan tâm nhiều bởi các nhà hoạch định chính sách ở các khía cạnh như: xem các chương trình này có hiệu quả đối với nhóm dân số đích; liệu phiếu khám sức khỏe có tăng cường tối đa sử dụng dịch vụ y tế; liệu các chi phí của việc cung cấp dịch vụ trong chương trình này có tối ưu hơn các hình thức viện trợ/phân bổ các gói dịch vụ y tế khác; chương trình này liệu có nâng cao cải thiện chất lượng dịch vụ y tế và sức khỏe người dân không. Những câu hỏi này được kiểm định giả thuyết trong đánh giá về chương trình này.

 

Chính sách và những nghiên cứu nền tảng

 

Phiếu khám sức khỏe tồn tại trong bối cảnh một số chiến lược tài chính nhằm khích lệ cả các nhà cung cấp và các đối tượng đưa ra kết quả tối ưu. Các điều khoản dùng để phân loại các loại chiến lược tài chính là “dựa trên kết quả tài chính” và “mức chi trả cho hiệu suất”. Theo các điều khoản có ba nhóm yếu tố chính của chương trình: những người khuyến khích đầu ra cung cấp dịch vụ (tài chính phía cung), những người thưởng cả nhà cung cấp và kết quả đầu ra và những người tập trung chủ yếu vào đối tượng thụ hưởng (tài trợ phía cầu) (Musgrove 2010). Phiếu khám sức khỏe được coi là một loại hình viện trợ đầu ra dựa trên mặt cầu - nhằm khích lệ cả các nhà cung cấp và các đối tượng tham gia.

Cho đến nay, phiếu khám đã được sử dụng cho các dịch vụ y tế cơ bản, dịch vụ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, các dịch vụ sức khỏe tình dục và sinh sản (điều trị STI, kế hoạch hoá gia đình, phòng chống bạo lực và phá thai an toàn). Chương trình phiếu khám đã được sử dụng trên khắp thế giới bao gồm các nước ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh.

 

Mục tiêu chính của tổng quan này là tóm tắt những bằng chứng về tác động của các chương trình phiếu dịch vụ y tế ở các nước đang phát triển. Các tài liệu về hệ thống phiếu y tế được đánh giá để xác định mức độ mà hệ thống phiếu nhắm mục tiêu thành công vào các nhóm dân số cụ thể, nâng cao chất lượng, hiệu quả và sử dụng các dịch vụ y tế, và cải thiện sức khỏe của người dân ở các nước đang phát triển. Nhìn chung, những nghiên cứu đã chỉ ra được hiệu quả từ những chương trình sử dụng phiếu khám sức khỏe, nhắm được tới đối tượng đích trong việc sử dụng sản phẩm/dịch vụ y tế, phục vụ sức khỏe cho người dân. Tuy nhiên, trong nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu thấy rằng không có đủ chứng cứ xác định liệu những phiếu khám sức khỏe từ những nhà cung cấp dịch vụ y tế có hiệu quả hơn so với chiến lược tài chính y tế. Nhưng bên cạnh đó, nghiên cứu có bằng chứng mạnh mẽ cho rằng, các chương trình có phiếu khám sức khỏe tăng trong việc sử dụng sản phẩm/dịch vụ y tế. Các chứng cứ cũng chỉ rằng chương trình phiếu khám sức khỏe không ảnh hưởng tới sức khỏe của cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, kết luận này không chắc chắn thông qua phân tích độ nhạy khi thêm một biến số kết quả tích cực, nó có thể làm thay đổi kết luận một cách mạnh mẽ. Một điểm quan trọng cuối cùng cho nghiên cứu và những phân tích trong tương lai là sự kết hợp của nhiều thông tin đánh giá vào báo cáo này vì lúc này nó trở nên sẵn có. Ngoài ra, những điều tra nghiên cứu để thu thập thêm bằng chứng mới trong tương lai, điều quan trọng là các nhà tài trợ cho các chương trình và quản lý y tế cần có cơ chết giám sát, phối hợp để có thêm thông tin xác thực đưa vào quá trình tổng hợp.

 

Nguồn The Evidence for Policy and Practice Information and Co-ordinating Centre



Tag: tế thế giới (satcher 2000)chỉ chiếm 11% tổng chithế giớiphát triển phải chịu 93% gánh nặng bệnh tậtnướcquốc gia (satcher 2000)khác nhau giữahivbệnh sốt rétbệnh cụ thểtử vongtử vong mẹbiện pháp đo lường tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh

Bình luận

Bạn cần phải Đăng nhập trước khi gửi bình luận.
 
TẠP CHÍ YHDP
QUAN HỆ HỢP TÁC
TVNIHE
TVWHO
TVVien Dinh Duong
TVVien SKNNMT
TVCDC
TVVSYTCC
TVDHYTCC
TVYTDP Quang Ninh
TVDHY TP HCM
TVDH Y
TVVien Sot ret
TVTCMR
TVVSDT Tay Nguyen
TVPasteurNhaTrang
Vien vac xin va sinh pham y te
TVPasteurHCM
VIDEO CLIP
Tác động của sử dụng phiếu dịch vụ y tế và chất lượng các dịch vụ y tế ở các quốc gia đang phát triển Tác động của sử dụng phiếu dịch vụ y tế và chất lượng các dịch vụ y tế ở các quốc gia đang phát triển
3.0/5 81