HỘI NGHỊ KHOA HỌC 2019
  • Hoi nghi Khoa hoc 2019
GSTS DANG DUC ANH DUOC BO NHIEM LAI CHUC VU VIEN TRUONG VIEN VE SINH DICH TE TRUNG UONGThao go nhung rao can cung CDC cac tinhHoi nghi Ban chap hanh Hoi Y hoc du phong Viet NamKet qua thi dau giai Bong ban Hoi Y hoc Du phong lan thu nhat 2019THONG CAO BAO CHI TRIEN LAM QUOC TE CHUYEN NGANH Y DUOC VIET NAM  VIETNAM MEDI-PHARM 2019Thong bao Hoi thao khoa hoc Viem nhiem phu khoa Thuc trang va Giai phapLe phat dong cuoc thi Hoc vien Y hoc nhi tai Ha NoiThu nghiem lam sang Vacxin Rotavin cong thuc moi tai Quang NinhThu moi tham gia va tai tro cuoc thi Hoc vien Y hoc nhi
Liên hệ trực tuyến
Hỗ trợ kĩ thuật
Hỗ trợ kĩ thuật
Đặt tạp chí
tapchiyhocduphong.vn
TIN TIÊU ĐIỂM

Những vấn đề liên quan sức khỏe vị thành niên


 Những vấn đề về sức khoẻ tâm thần

 

Đối với vị thành niên, các vấn đề về sức khỏe tâm thần là một trong những nhân tố nguy cơ hàng đầu dẫn đến cái chết, chẳng hạn như tự tử, nguyên nhân là do những năm sống bị mất đi do chết sớm và số năm sống mất đi vì tàn tật hoặc thương tích (DALYs). Nhiều vị thành niên khi tham gia các buổi tư vấn toàn cầu bởi tổ chức bởi Tổ chức y tế thế giới (WHO) đã xem xét sức khỏe tâm thần là vấn đề sức khỏe quan trọng nhất đối với vị thành niên ngày nay, và họ muốn tiếp cận nhiều hơn để chăm sóc sức khỏe tâm thần cho chính mình.

 

Tự tử bắt nguồn từ các vấn đề sức khoẻ tâm thần. Tuy nhiên, sự chủ định tự sát của vị thành niên không được giám sát rộng rãi. Chỉ có một phần ba các nước hỏi về ý định tự tử trong GSHS, và nó cũng không phải là một câu hỏi bắt buộc trong HBSC. Các cuộc điều tra quốc gia trong những trường học ở châu Âu và Hoa Kỳ không hề hỏi học sinh về ý định tự tử. Không quốc gia nào ở khu vực Đông Nam Á hỏi về ý định tự tử của học sinh sinh viên.

 

 


Tỷ lệ tự tử: Tỷ lệ tự tử dao động trong vị thành niên từ 12-18 tuổi. Theo báo cáo của nhiều quốc gia có thu nhập cao, tỷ lệ tự tử tại quốc gia họ là 5-10%. Tỷ lệ tự tử này cao hơn, vào khoảng 15% tại một số quốc gia có thu nhập thấp và trung bình. Ở một số quốc gia, có 1 trong 3 vị thành niên thú nhận đã từng có ý định tự tử.

 

Sự khác biệt giới tính: Tại châu Âu và châu Mỹ, số lượng các cô gái ở độ tuổi vị thành niên có ý định tự tử gấp đôi số lượng nam giới, nhưng trong số các nước tham gia GSHS ở khu vực Châu Phi, Đông Địa Trung Hải, và còn tại khu vực Tây Thái Bình Dương, không có sự khác biệt ý định tử tự ở cả hai giới.

 

Rối loạn sức khỏe tâm thần: Không có các cuộc điều tra thường xuyên đánh giá sự phổ biến của rối loạn sức khỏe tâm thần vị thành niên hoặc hành vi sử dụng dịch vụ sức khỏe tâm thần của vị thành niên. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã hỗ trợ cuộc điều tra Sức khỏe Tâm thần Thế giới, 10 cuộc điều tra hộ gia đình trong 5 quốc gia để ghi lại sự các điều kiện sức khỏe tâm thần vị thành niên và các hành vi chăm sóc sức khoẻ của họ.

 

Độ tuổi khởi bệnh: Cuộc diều tra Sức khoẻ Tâm thần Thế giới phát hiện rằng nhiều rối loạn tâm thần thường bắt đầu trong thời thơ ấu hay tuổi niên thiếu, mặc dù chẩn đoán và điều trị có thể bị trì hoãn cho trong nhiều năm. Một nửa trong số các trường hợp rối loạn tâm thần bắt đầu xuất hiện ở độ tuổi 14.

 

Điều trị: Ở các nước có thu nhập cao như Mỹ và Canada, khoảng một nửa số vị thành niên với các vấn đề sức khỏe tâm thần được chăm sóc ở mức cần thiết. Ở các nước có thu nhập thấp và trung bình việc tiếp cận điều trị là khó khăn.

 

Dưới gánh nặng đáng kể của các vấn đề sức khỏe tâm thần, WHO đã xây dựng Kế hoạch hành động Sức khỏe Tâm thần cho 2013-2020. Kế hoạch này bao gồm các hành động đề nghị để cải thiện sức khỏe tâm thần của vị thành niên.

 

Bạo lực và chấn thương: Chấn thương là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong và bệnh tật ở vị thành niên. Vì vậy, điều quan trọng là giám sát và đưa ra các biện pháp phòng tránh bạo lực và thương tích.

 

Sử dụng bạo lực: có thể dẫn đến chấn thương nghiêm trọng, và nó còn liên quan đến lạm dụng chất gây nghiện và các hành vi. Sử dụng vũ lực phổ biến trong vị thành niên trẻ tuổi, xảy ra ở con trai nhiều hơn là con gái.

 

Bạo lực bạn tình: Bạo lực trong các mối quan hệ thân mật là phổ biến. Nó không chỉ dẫn đến chấn thương thể chất, mà còn dẫn đến chấn thương về mặt tinh thần. Những chấn thương do bạo lực bởi bạn tình có thể dẫn đến vấn đề sức khỏe tâm thần ngay lập tức hoặc kéo dài lặp đi lặp lại trong suốt cuộc đời.

 

Tỷ lệ bạo lực: Gần 30% phụ nữ độ tuổi từ 15-19 đang sống chung với bạo lực do các đối tác của họ, theo một đánh giá của WHO. Tỷ lệ bạo lực dao động từ khoảng 10% ở một số nước có thu nhập cao đến 43% tại khu vực Đông Nam Á.

Các cuộc điều tra trong trường học trong năm quốc gia có thu nhập cao (Canada, Đức, Hà Lan, Thụy Điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ) cho thấy dấu hiệu bạo lực bạn tình ở vị thành niên không sống chung nhưng đang trong mối quan hệ yêu đương. Trong các cuộc điều tra, sự phổ biến của bạo lực bạn tình cho cả nam giới và nữ giới vị thành niên và là khoảng 10%. Tỷ lệ bạo lực giữa các học sinh trong các trường học ở cả Bắc Mỹ và châu Âu cũng tương tự.

 

Bắt nạt: là một chỉ số khác về bạo lực. Bị bắt nạt thường dẫn đến một loạt các vấn đề tâm thần, tâm lý xã hội, nhận thức / giáo dục và y tế bao gồm cả trầm cảm và tự tử, cũng như phản ứng đối phó kém với các vấn đề như nghiện rượu và sử dụng ma túy khác. Tỷ lệ vị thành niên trẻ, những người cho biết họ bị bắt nạt (trong vòng một hoặc hai tháng qua) dao động dưới 10% ở Ý và Armenia đến 50% hoặc cao hơn ở 17 quốc gia trong tổng số 106 quốc gia. Trong khoảng một nửa số quốc gia, con trai bị bắt nạt nhiều hơn con gái. Chỉ trong ba nước con gái báo cáo tỷ lệ bị bắt nạt cao hơn đáng kể so với con trai.

 

Chấn thương nghiêm trọng, cũng rất phổ biến ở vị thành niên trong các dữ liệu GSHS và HBSC. Thông thường, con trai báo cáo thương tích nhiều hơn con gái. Tỷ lệ cao nhất trong khu vực châu Phi, nhưng trong hơn một nửa các quốc gia ở tất cả các khu vực, ít nhất 50% các chàng trai trẻ vị thành niên báo cáo thương tích nghiêm trọng trong năm trước đó. Trong số các em gái tuổi từ 13-15, tỷ lệ là 30-40% ở hầu hết các nước nhưng đạt 80% ở Ghana.

 

Hành vi sức khỏe về tình dục và sinh sản

 

Quan hệ tình dục không được bảo vệ có thể dẫn đến một loạt các kết quả bất lợi, từ các bệnh lây truyền qua đường tình dục đến mang thai ngoài ý muốn, với những rủi ro của sinh đẻ sớm hoặc phá thai không an toàn. Các GSHS và HBSC hỏi về hành vi tình dục trong 80 trên tổng số 109 quốc gia.

 

Từng có quan hệ tình dục: Tỷ lệ vị thành niên trẻ tuổi (tuổi từ 13-15), báo cáo rằng họ đã quan hệ tình dục trong là khác nhau giữa các nước trong mỗi khu vực. Trên thế giới, báo cáo từ 69% con trai tại Samoa và 71% con gái ở Greenland đã quan hệ tình dục trong khi ít hơn 1% con trai và con gái ở Indonesia.

 

Trong hầu hết các nước tham gia, con trai báo cáo rằng họ đã quan hệ tình dục nhiều hơn con gái. Tuy nhiên, ở một số nước châu Âu, chẳng hạn như Greenland và Anh, con gái báo cáo quan hệ tình dục nhiều hơn, một số nước khác như Canada, Đan Mạch, Thái Lan, nam và nữ báo cáo tỷ lệ tương tự. Không có xu hướng rõ ràng trong các quốc gia có thu nhập cao của châu Âu và Bắc Mỹ.

 

Sử dụng bao cao su: Trong số 80 quốc gia có các cuộc điều tra trong trường học hỏi về quan hệ tình dục, 74 cũng hỏi về hành vi sức khỏe liên quan đến tình dục. Trong hầu hết các nước, một nửa số vị thành niên 15 tuổi báo cáo sử dụng bao cao su. Tỷ lệ lên tới 91% nam quan hệ tình dục và 89% các cô gái quan hệ tình dục trong Estonia. Sử dụng bao cao su thường được gia tăng ở vị thành niên trẻ khi bắt đầu hoạt động tình dục, đặc biệt là ở nữ, trong hầu hết các nước châu Âu và Bắc Mỹ.

 

Hành vi về dinh dưỡng và tình trạng suy dinh dưỡng

 

Suy dinh dưỡng: Trong một số quốc gia, tình trạng suy dinh dưỡng vẫn là một nguy cơ quan trọng đối với vị thành niên trẻ tuổi.Tình trạng suy dinh dưỡng làm tăng tỷ lệ tử vong vì liên quan đến các vấn đề thiếu máu thiếu sắt.Ở một số nước cả suy dinh dưỡng và béo phì đang ở một mức độ cao cùng một lúc.

 

Trong số 47 quốc gia có thể đo được khối lượng cơ thể ở vị thành niên trẻ trong GSHS, ít nhất 10% trẻ em trai ở 13 quốc gia và của các cô gái tại 10 quốc gia bị suy dinh dưỡng. Hầu hết các nước có tỷ lệ trẻ vị thành niên suy dinh dưỡng cao là ở các khu vực châu Phi hay Đông Nam Á. Không có quốc gia thu nhập thấp và trung bình ở châu Mỹ với hơn 10% vị thành niên trẻ suy dinh dưỡng.

 

Tiêu thụ trái cây và rau quả

 

Ăn nhiều trái cây và rau quả sẽ giúp vị thành niên sẽ cải thiện mức độ chất dinh dưỡng và giảm rủi ro mắc các bệnh bệnh béo phì, tiểu đường và một số dạng ung thư. Trong gần như tất cả các quốc gia tham gia vào GSHS, phần lớn các vị thành niên trẻ không ăn đủ khẩu phần trái cây và rau quả hàng ngày.Vanuatu là một ngoại lệ duy nhất.

 

Các cuộc điều tra HBSC ở châu Âu và Bắc Mỹ hỏi vị thành niên liệu họ ăn trái cây và rau ít nhất một lần trong ngày. Tỷ lệ dao động từ 10% đến 60%. Trong hầu hết các nước, tỷ lệ nữ ăn rau quả nhiều hơn là nam giới.

 

Nước giải khát, đặc biệt là đồ uống có đường, phổ biến với vị thành niên nhưng góp phần gây thừa cân, béo phì cũng như các nguy cơ bệnh tiểu đường loại II.Ở các nước thu nhập cao, một trong bốn vị thành niên tiêu thụ nước giải khát hàng ngày, với tỷ lệ phạm vi rộng rãi, từ 49% nam 15 tuổi ở Slovenia 2% nữ 13 tuổi ở Phần Lan. Trong số các nước GSHS, tiêu thụ nước giải khát hàng ngày phổ biến hơn, từ mức thấp 41% trong Mauritius tới 75% ở Trinidad và Tobago. Ở các nước thu nhập cao hơn cho thấy xu hướng cải tiến. Có ít nhất hai phần ba số quốc gia báo cáo sự sụt giảm kể từ năm 2001 trong tỷ lệ thanh thiếu niên uống một hoặc nhiều nước ngọt mỗi ngày. Tuy nhiên, mức tiêu thụ có thể tăng lên ở các nước thu nhập thấp và trung bình.

 

Tiêu thụ thực phẩm và đồ uống

 

Trong tư vấn toàn cầu của WHO, vị thành niên được coi là có hành vi sức khỏe ảnh hưởng đến hàng đầu trong số các đồng nghiệp của mình:

 

•    Chế độ ăn uống không lành mạnh

•    Ít hoạt động thể dục

•    Sử dụng rượu và chất gây nghiện khác

•    Thói quen ngủ không lành mạnh

 

Những hành vi ảnh hưởng đến sức khỏe hiện tại và tương lai - bệnh béo phì và hoạt động thể chất.

 

Béo phì là một yếu tố nguy cơ cho bệnh tim mạch và đái tháo đường tuổi vị thành niên và tuổi trưởng thành.Khoảng một trong số bốn thanh thiếu niên tham gia tư vấn toàn cầu của WHO cho rằng béo phì và thừa cân là vấn đề sức khỏe quan trọng nhất ảnh hưởng đến vị thành niên.Trong cả hai HBSC và GSHS, béo phì là tình trạng sức khỏe chỉ đánh giá để đo lường sự tiến bộ trong việc ngăn ngừa các bệnh không lây.Những dữ liệu này bao gồm vị thành niên trẻ (tuổi từ 13-15). Có sự khác biệt trong khu vực ở tỉ lệ béo phì. Các nước Châu Phi và Đông Nam Á báo cáo mức thấp nhất của bệnh béo phì ở vị thành nên trẻ tuổi trở lên. Trong số 56 quốc gia mà độ cao và trọng lượng vị thành niên được xác định, 14 quốc gia có hơn 10% trẻ em trai bị béo phì, trường hợp cho trẻ em gái tại 9 quốc gia. Tỷ lệ béo phì được báo cáo ở một số nước Tây Thái Bình Dương và Đông Địa Trung Hải..

 

Trong hầu hết trong số 21 quốc gia có dữ liệu STEPS cho thanh thiếu niên, phụ nữ trẻ có tỷ lệ béo phì cao hơn so với những người đàn ông trẻ tuổi. Một lần nữa, mức cao nhất là ở khu vực Tây Thái Bình Dương. Trong 6 của 21 quốc gia, tỷ lệ béo phì là 10% hoặc cao hơn trong thanh thiếu niên lớn tuổi hơn. Tỷ lệ thừa cân và béo phì ở châu Âu và Bắc Mỹ đã được đo bằng HBSC với chiều cao và trọng lượng dữ liệu tự báo cáo.Chỉ có một quốc gia, Hoa Kỳ, báo cáo tỷ lệ béo phì là 10% hoặc cao hơn.

 

Hoạt động thể chất đầy đủ là rất quan trọng để ngăn ngừa bệnh tiểu đường, thừa cân,  béo phì, bệnh tim mạch và tăng cường sức khỏe tinh thần trẻ vị thành niên. Hướng dẫn giới thiệu ít nhất 60 phút hoạt động thể chất vừa phải mỗi ngày đối với vị thành niên.Hầu hết các vị thành niên trẻ tuổi ở các nước đang thực hiện GSHS hoặc HBSC không đạt được mức chỉ tiêu đó.Nam giới trẻ có xu hướng sôi động hơn nữ giới, và vị thành niên ở các nước thu nhập thấp và trung bình có nhiều khả năng chủ động hơn so với ở các nước thu nhập cao. Tuy nhiên, không một quốc gia nào có một số vị thành niên của mình đáp ứng các mức độ hoạt động hàng ngày được đề nghị.

 

Trong tất cả các nước có thu nhập cao, 20% hoặc ít hơn nữ giới 15 tuổi đáp ứng đủ số lượng khuyến cáo hàng ngày của hoạt động thể chất. Chỉ có 7 quốc gia có hơn 25% trẻ em trai đạt mức đề nghị của hoạt động thể chất hàng ngày.

 

Hành vi sử dụng rượu bia ảnh hưởng đến sức khoẻ

 

Sử dụng rượu góp phần vào rủi ro trẻ bị thành niên gây thương tích, bạo lực, tình dục không được bảo vệ và tự tử có chủ định. Ở tuổi trưởng thành, rượu bia đóng một vai trò trong nguy cơ mắc các bệnh không lây.

 

Tỷ lệ vị thành niên niên trẻ, những người sử dụng rượu, ít nhất một lần/tháng dao động từ gần hai phần ba số nam giới và nữ giới ở Seychelles.Con số này chỉ có 1% nam giới nữ giới ở Myanmar. Trong hầu hết các nước,nam giới tiêu thụ rượu bia nhiều hơn nữ giới.

 

Xu hướng sử dụng rượu bia. Hầu hết các nước có thu nhập cao ở châu Âu và Mỹ báo cáo tình hình sử dụng rượu bia giảm đi trong cả hai vị thành niên lớn tuổi và trẻ tuổi. Trong số các vị thành niên trẻ, mức sử dụng bia rượu ở nhiều nước đã giảm hơn một nửa từ năm 2001. Tuy nhiên, một số quốc gia báo cáo tăng lên.

 

Nguồn Tổ chức Y tế thế giới ( WHO)



Tag: sức khoẻhành vi sử dụng rượu bia ảnh hưởngtình trạng suy dinh dưỡngdinh dưỡnghành visinh sảntình dụchành vi sức khỏesức khoẻ tâm thầnvấn đề

Bình luận

Bạn cần phải Đăng nhập trước khi gửi bình luận.
 
TẠP CHÍ YHDP
QUAN HỆ HỢP TÁC
TVNIHE
TVWHO
TVVien Dinh Duong
TVVien SKNNMT
TVCDC
TVVSYTCC
TVDHYTCC
TVYTDP Quang Ninh
TVDHY TP HCM
TVDH Y
TVVien Sot ret
TVTCMR
TVVSDT Tay Nguyen
TVPasteurNhaTrang
Vien vac xin va sinh pham y te
TVPasteurHCM
VIDEO CLIP
Những vấn đề liên quan sức khỏe vị thành niên Những vấn đề liên quan sức khỏe vị thành niên
2.0/5 552